Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Nuôi dưỡng mắt khỏe - Đẩy lùi đau mắt đỏ

Đặc biệt là những biến chứng nguy hiểm như viêm giác mạc, giảm thị lực nếu không được chăm sóc điều trị đúng cách. 

Dịch đau mắt đỏ hàng năm thường bùng phát vào khoảng tháng 9 - 10, tuy nhiên năm nay chỉ mới đầu hè, thời tiết nắng nóng bệnh đau mắt đỏ đã xuất hiện ở khu vực phía bắc.


Đau mắt đỏ năm nay đến sớm hơn do mùa hè không khí nóng bức ngột ngạt, virus, nấm mốc gây bệnh sinh sôi nhanh. Bệnh gây ra nhiều phiền toái trong sinh hoạt cả người bệnh lẫn người trong gia đình. Biến chứng có thể gây sẹo, giảm thị lực hoặc mù lòa. 

Vì vậy, việc vệ sinh mắt, tăng cường sức khoẻ mắt là biện pháp phòng bệnh an toàn và ít tốn kém nhất.
Những lưu ý để phòng đau mắt đỏ
Bệnh đau mắt đỏ rất dễ mắc, dễ lây cho cả nhà và cộng đồng vì vậy cần phải giữ vệ sinh thật tốt để kiểm soát tránh lây lan bệnh cho mình và những người xung quanh:
- Không dụi mắt bằng tay. Rửa tay kỹ và thường xuyên với nước ấm, xà phòng.
- Rửa mặt ít nhất 3 lần/ngày bằng nước sạch, khăn sạch, riêng. Giặt khăn bằng xà phòng, phơi khăn ngoài nắng.
- Không dùng chung chai thuốc nhỏ mắt.
- Một nguyên lý rất đơn giản: Mắt khỏe, có sức đề kháng tốt thì hạn chế sự xâm nhập của virus, vi khuẩn.
Do đó, trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày thông qua các bữa ăn, bạn cần cung cấp thêm những dưỡng chất cho mắt, đặc biệt là vitamin nhóm B, giúp mắt vượt qua mùa dịch bệnh.
- Vitamin B1 (thiamine hydroclorid) đóng vai trò chuyển hóa glucid cung cấp năng lượng cho mắt có nhiều trong gạo, bột mì, bột đậu xanh, thịt gà, nấm…
- Vitamin B2 (riboflavin) giữ vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi sắc tố ở võng mạc, giúp mắt thích nghi với ánh sáng. Vitamin này có nhiều trong thịt, trứng, sữa, ngũ cốc.
- Vitamin PP (Vitamin B3) là vi chất cần thiết cho quá trình oxy hóa khử chuỗi hô hấp tế bào của mắt. Vitamin PP giúp mắt phòng được những bệnh như: kết mạc bị xanh tái, viêm kết mạc, viêm bờ mi, thủng loét giác mạc, teo dây thần kinh thị giác, sợ ánh sáng, đục thủy tinh thể, xuất huyết võng mạc… Vitamin này có nhiều trong cá, gạo, lúa mạch, mỳ spaghetti, khoai tây, sữa, phô-mai, đậu phụ, bơ, đậu, nấm, rau chân vịt, trứng, cá thu, gà, tôm.
- Vitamin B12, ngoài tác dụng tạo máu, bảo vệ tính toàn vẹn tế bào thần kinh, đẩy mạnh quá trình tổng hợp Protein, giúp mau liền sẹo, rất cần thiết cho những người có tổn thương thị giác. Vitamin B có nhiều trong nghêu, gan bò, cá hồi, cá ngừ.
Ngoài chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, thì "bữa ăn dinh dưỡng" bằng thuốc nhỏ mắt có chứa Vitamin nhóm B là một trong những giải pháp chăm sóc mắt đúng đắn nhất hiện nay.

Bệnh "lệ rơi", chậm điều trị "khóc" cả đời

Nếu lệ rơi hoài không dứt, nước sẽ ứ đọng trong túi lệ gây nhiễm trùng, áp xe, tạo mủ dẫn đến tắc lệ đạo. Chậm điều trị, viêm nhiễm kéo dài sẽ khiến mắt trẻ đau nhức, có thể phải cắt túi lệ gây nên tình trạng “khóc không kiểm soát” cả đời.
Từ chảy nước mắt sống...
Có đến 80% trẻ bị chảy nước mắt sống sau sinh. Nguyên nhân là do van Hasner's trong đường dẫn nước mắt của trẻ chậm mở. Ở hầu hết trẻ, van này sẽ tự mở trong vòng dưới sáu tháng; hoặc đến dưới một tuổi (khoảng 20% trẻ) hay đến trên một tuổi (một tỉ lệ nhỏ).
"Chảy nước mắt sống là điều hết sức bình thường, cha mẹ chớ nên lo lắng quá mức. Điều cần làm là khi thấy trẻ bị chảy nước mắt cần đưa đến các đơn vị chuyên khoa nhãn nhi để được khám và tư vấn" - BS Nguyễn Ngọc Châu Trang, Trưởng khoa Mắt nhi, BV Mắt TPHCM, cho biết.
Nếu đúng là trẻ bị chảy nước mắt do van Hasner's chưa mở, cha mẹ cần vệ sinh đúng cách và thường xuyên mát xa, day nắn cho trẻ theo hướng dẫn của BS, giúp cho van mở nhanh hơn và mở hoàn toàn. Sau một tháng day nắn, trẻ vẫn bị chảy nước mắt có nghĩa cha mẹ chưa thực hiện đúng cách, cần phải xem lại cách day. Có nhiều trường hợp phụ huynh day, nắn không thường xuyên hoặc không đúng theo hướng dẫn của BS, khiến van không tự mở, trẻ phải chịu can thiệp nặng nề hơn là thông lệ đạo (phải gây mê).
Từ sau sáu tháng, khi đã thực hiện biện pháp day nắn mà trẻ vẫn còn chảy nước mắt thì mới tiến hành thông lệ đạo, tác động làm van Hasner's mở ra. Cha mẹ không nên nôn nóng đưa trẻ đi thông lệ đạo sớm (trước sáu tháng tuổi) vì sẽ làm tổn thương đường lệ đạo của bé, khiến trẻ phải trải qua phẫu thuật làm giảm chảy nước mắt rất nặng nề, tốn kém mà kết quả thành công lại cực thấp.
Nếu thông lệ đạo mà vẫn chưa hết chảy nước mắt thì nguyên nhân còn có thể do đường dẫn nước mắt đã bị đặc. Trong trường hợp này, trẻ sẽ phải chịu thêm một phẫu thuật nong đường dẫn nước mắt bằng cách đặt ống silicon trong ống lệ quản. Khoảng ba-sáu tháng BS sẽ cho rút ống silicon ra. Nếu sau đặt ống mà vẫn không cải thiện được tình trạng chảy nước mắt, trẻ tiếp tục chịu đựng thêm một lần phẫu thuật để mở thông túi lệ.
... đến tắc lệ đạo
BS Nguyễn Ngọc Châu Trang cảnh báo: "Có nhiều trường hợp trẻ bị viêm túi lệ, có nhầy mủ cha mẹ mới đưa con đến khám, do nước mắt ứ đọng tại túi lệ gây nhiễm trùng tại đường lệ, khiến bé mắc bệnh lý tắc lệ đạo. Ấn tay vào vùng túi lệ sẽ có nhầy mủ trào ra ở khóe mắt, dễ gây áp xe, thậm chí gây rò, thoát mủ ra ngoài, khiến bé đau nhức. Nhiều trẻ, túi lệ bị viêm nhiễm nặng phải cắt đi, khiến bé phải mang căn bệnh "khóc không kiểm soát".
BS Võ Chinh Nga, BV Mắt TPHCM cho biết thêm: "Trẻ có thể bị tắc lệ đạo do một số nguyên nhân khác: không có điểm lệ, tắc ống lệ mũi do các bất thường về xương của ống lệ mũi. Nguyên nhân hiếm gặp hơn là do bị rò túi lệ bẩm sinh (túi lệ có một lỗ rò ra da ở góc trong mũi)".
Những triệu chứng ban đầu cho thấy trẻ có nguy cơ bị tắc lệ đạo: sau sinh hai-ba tuần mắt trẻ luôn ướt hoặc thường xuyên chảy nước mắt, có thể chảy nước mắt đơn thuần hoặc có ghèn dính ở góc trong mắt. Trẻ có dấu hiệu chảy nước mắt đơn thuần, không kèm thêm triệu chứng khác thì khả năng mắt trẻ không có điểm lệ. Mắt trẻ thường xuyên có rỉ ghèn, nhất là ở vùng góc trong nhưng điều trị bằng kháng sinh không khỏi. Vùng túi lệ (góc trong mắt) có thể nề nhẹ, ấn vào vùng túi lệ có mủ nhầy trào ra ở lỗ lệ thì có thể là trẻ đã bị tắc ống lệ mũi kéo dài gây viêm túi lệ mạn.
Tắc lệ đạo thường dễ bị nhầm lẫn với một số bệnh lý khác có gây chảy nước mắt ở trẻ sơ sinh như: viêm kết mạc, quặm mi dưới hay glocom bẩm sinh. Vì vậy, các bậc phụ huynh nên lưu ý đưa trẻ đi khám ở các cơ sở chuyên khoa nhãn nhi để xác định đúng bệnh.
Theo Nga Thanh - Phụ nữ TPHCM

Nắng nóng, dự phòng bệnh dại

Vì vậy, cộng đồng người dân và cả cơ sở y tế không nên chủ quan, cần biết nguyên tắc điều trị dự phòng cần thiết.

Nắng nóng, dự phòng bệnh dại
Lời khuyên của thầy thuốc
Cần lưu ý rằng, các vết thương do những động vật hoang dại cắn cũng phải xử trí điều trị dự phòng như đối với trường hợp bị chó cào cắn. Khi bị các động vật hoang dại cắn, cần bắt ngay con vật để làm xét nghiệm; khi có kết quả âm tính đối với bệnh dại thì có thể dừng việc điều trị dự phòng. Nếu vết thương do các loại động vật gặm nhấm, gia súc khác cắn thì cơ sở y tế có thể xem xét chỉ định việc tiêm vắc-xin phòng dại mà không cần tiêm huyết thanh kháng dại.
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế trong điều trị dự phòng bệnh dại, việc chỉ định dùng vắc-xin phòng dại và huyết thanh kháng dại phải căn cứ theo tình trạng của con chó, hoàn cảnh bị chó cào cắn hoặc tiếp xúc với nguồn bệnh, vị trí, số lượng, mức độ vết cào cắn và tình hình bệnh dại xảy ra tại địa phương. 
Đối với những người chưa được tiêm vắc-xin, việc chỉ định điều trị dự phòng bệnh dại cần phải dựa vào phân loại vết thương do chó cào cắn một cách cụ thể để có xử trí phù hợp. Tình trạng tiếp xúc với chó hoặc do bị chó cào cắn được phân chia làm 3 mức độ, từ bình thường đến nặng.
Mức độ 1
Đây là mức độ khi cơ thể không bị tổn thương, người chỉ tiếp xúc với chó bằng động tác sờ mó, vuốt ve; cho chó ăn, để chó liếm trên phần da lành không bị vết xước, vết cào thì không cần xử trí điều trị dự phòng.
Mức độ 2
Được phát hiện khi bị chó cào cấu gây thương tổn với vết xước, vết cào; để chó liếm trên phần da và niêm mạc bị tổn thương. Nếu tại thời điểm bị cào cấu, chó ở trong tình trạng bình thường kể cả chó đã được tiêm phòng dại thì phải điều trị dự phòng bằng cách tiêm ngay vắc-xin phòng dại và trong vòng 10 ngày, sau đó tình trạng chó vẫn ở tình trạng bình thường thì dừng tiêm vắc-xin sau ngày thứ 10. 
Nếu tại thời điểm bị chó cào cấu phát hiện có vết xước, vết cào và chó ở trong tình trạng bình thường kể cả chó đã được tiêm phòng dại nhưng trong vòng 10 ngày sau đó con chó bị ốm, có xuất hiện triệu chứng dại hoặc bỏ chạy mất tích không theo dõi được thì ngay từ đầu phải điều trị dự phòng bằng cách tiêm ngay vắc-xin dại và tiêm đủ liều. 
Khi tại thời điểm bị chó cào cấu có vết xước, vết cào; chó đã có triệu chứng dại hoặc bỏ chạy mất tích không theo dõi được tình trạng thì ngay từ đầu phải điều trị dự phòng bằng cách tiêm ngay vắc-xin phòng dại và tiêm đủ liều.
Nắng nóng, dự phòng bệnh dại
Mức độ 3
Đây là mức độ nặng xảy ra khi nạn nhân có những tổn thương do vết cắn, vết cào nguy hiểm.
Nếu vết thương do chó cắn hay cào gây chảy máu ở vùng xa thần kinh trung ương nhưng tại thời điểm bị cắn hay cào; con chó ở tình trạng bình thường thì phải điều trị dự phòng bằng cách tiêm ngay vắc-xin phòng dại và theo dõi 10 ngày sau đó chó vẫn ở tình trạng bình thường thì có thể dừng tiêm vắc-xin sau ngày thứ 10. 
Nếu tại thời điểm bị chó cắn hay cào, con chó ở tình trạng bình thường nhưng trong vòng 10 ngày sau đó chó bị ốm, có xuất hiện triệu chứng dại hoặc bỏ chạy mất tích không theo dõi được thì ngay từ đầu phải điều trị dự phòng bằng cách phải tiêm ngay vắc-xin phòng dại và tiêm đủ liều. 
Khi tại thời điểm bị chó cắn hay cào, con chó có triệu chứng dại hoặc bỏ chạy mất tích không theo dõi được tình trạng thì phải điều trị dự phòng ngay từ đầu bằng cách tiêm ngay huyết thanh kháng dại và vắc-xin phòng dại.
Nếu vết thương do chó cắn hay cào gây tổn thương sâu, có nhiều vết thương; vết cắn, vết cào gần thần kinh trung ương như đầu, mặt, cổ hay ở vùng có nhiều dây thần kinh như các đầu chi, bộ phận sinh dục nhưng ở thời điểm bị cắn hay cào chó ở trong tình trạng bình thường, có triệu chứng dại hoặc bỏ chạy mất tích không theo dõi được thì phải điều trị dự phòng ngay từ đầu bằng cách tiêm ngay huyết thanh kháng dại và vắc-xin phòng dại.

6 bệnh thường gặp mùa nóng

Viêm phổiViêm phổi ở trẻ có thể do virut hoặc vi khuẩn, như phế cầu khuẩn hay virut cúm, virut hợp bào... Khi các tác nhân mới xâm nhập vào cơ thể, các biểu hiện ban đầu là trẻ có sốt nhẹ hoặc sốt cao liên tục, đau họng, ho húng hắng, chảy nước mắt, mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc... Nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì bệnh sẽ diễn biến nặng hơn, trẻ sốt cao, li bì, ho tăng lên, có đờm, xuất hiện khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi. Khi thấy trẻ có những dấu hiệu của viêm họng, ho, sổ mũi, quấy khóc, kém vui chơi cần chú ý chăm sóc trẻ tốt hơn, nếu các dấu hiệu bệnh qua một ngày mà không thuyên giảm cần phải đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế, tránh những diễn biến nặng của bệnh.
6 bệnh thường gặp mùa nóng
Khám bệnh cho trẻ tại Bệnh viện Sản - Nhi Nghệ An. Ảnh: Đ. Tuấn
Sốt virut: Trẻ thường sốt cao, đau mỏi người, đau đầu, có thể có triệu chứng của viêm đường hô hấp trên như: hắt hơi, sổ mũi, ho (thường có ít đờm trắng trong không có màu vàng, xanh). Trẻ có thể phát ban biểu hiện chủ yếu là các ban đỏ mịn, thường xuất hiện vào ngày thứ 2 - 4 của bệnh, ban thường tuần tự từ đầu mặt xuống thân mình, chân và khi mất đi cũng theo tuần tự tương tự. Bệnh thường diễn biến lành tính trong 3-5 ngày. Cần theo dõi để phát hiện các triệu chứng của viêm não như đau đầu, nôn nhiều, rối loạn ý thức, co giật, để đưa trẻ đến cơ sở y tế khám và điều trị kịp thời.
Tiêu chảy: Thời tiết nắng nóng, ruồi nhặng phát triển, nguồn nước bị ô nhiễm, ăn hoa quả sống rửa không sạch. Nếu thấy các triệu chứng nổi bật như: Số lần đi đại tiện có thể ít (3-5 lần/ngày) hay nhiều (vài chục lần/ngày); Đau bụng (từng cơn hay liên tục, mót rặn hoặc đau quanh hậu môn); Buồn nôn hay nôn. Mất nước và điện giải (khát nước, khô miệng, mắt trũng, da nhăn, tứ chi lạnh, chuột rút, rối loạn nhịp tim, tiểu ít hay không nước tiểu…), trụy tim mạch (mạch nhanh và nhỏ, huyết áp thấp hay không đo được…) thì phải đưa bệnh nhân đến cơ sở để được cấp cứu kịp thời.
Ngộ độc thức ăn: Thời tiết mùa hè rất dễ khiến thực phẩm bị hư hỏng, ôi thiu. Ngoài ra, thời tiết mùa hè nóng ẩm cũng tạo điều kiện cho ruồi, muỗi, chuột, gián, kiến phát triển nhiều hơn nên càng dễ làm lây lan các mầm bệnh đường tiêu hóa, dễ gây ngộ độc thực phẩm.
Say nắng: Thời điểm nắng nóng gay gắt làm giãn mạch não gây ra tăng áp lực sọ và làm nhức đầu, có thể kèm theo nôn mửa hay hôn mê, co giật do ức chế vỏ não, làm tăng các hoạt động thần kinh tự động dưới vỏ. Người bị say nắng cũng rất nguy hiểm đến tính mạng.

Các bệnh về da: Thời tiết nắng nóng, nhiệt độ cao cộng với cường độ ánh sáng mạnh, da sẽ phải tăng cường sự tiết mồ hôi và thường xuyên tiếp xúc với một số loại tia sáng có hại trong ánh nắng như tia cực tím, tia tử ngoại. Do đó, thời tiết nắng nóng là cơ hội phát sinh một số bệnh da liễu nếu như không được bảo vệ tốt. Ở trẻ em, các bệnh da liễu thường gặp mùa nắng nóng là rôm sảy. Ở người lớn thường gặp bệnh viêm nang lông, mụn trứng cá, mụn ở lưng ngực, nhiễm trùng da, các bệnh viêm da dị ứng…

Chăm sóc bệnh nhân sau mổ ung thư đại trực tràng

Ung thư đại trực tràng (ruột già) là một trong năm loại ung thư thường gặp nhất tại Việt Nam hiện nay. Có đến 40% số bệnh nhân ung thư đại trực tràng(giai đoạn bệnh đã phát triển) vẫn bị tái phát sau khi đã được phẫu thuật cắt đoạn ruột bị bệnh.
Phẫu trị (mổ) là sự lựa chọn đầu tiên để cắt bỏ “đoạn ruột mang bướu” ra khỏi cơ thể với một khoảng an toàn cách xa bướu, đồng thời phải lấy hết các hạch bạch huyết đi kèm theo nhằm phòng tránh nguy cơ tái phát tại chỗ. Hai đầu ruột sau khi cắt sẽ được nối lại, tạo sự thông thương như đường ruột bình thường. Với sự phát triển không ngừng trong lĩnh vực ngoại khoa và chuyên ngành gây mê hồi sức, những phương thức phẫu thuật ít xâm lấn (phẫu thuật nội soi) được áp dụng ngày càng nhiều bên cạnh các phẫu thuật thường quy khác (mổ mở). Tuy nhiên, phẫu thuật nội soi chỉ có thể thực hiện được tại các bệnh viện chuyên khoa, do đó việc chăm sóc sau mổ sẽ dược các bác sĩ đặt trọng tâm vào: giảm đau sau mổ, tập vận động sớm cho bệnh nhân, tập vật lý trị liệu và chế độ dinh dưỡng. Tích cực trong chăm sóc sau mổ sẽ làm giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân từ 1 - 4 ngày.
Chăm sóc sau mổ thế nào?
Chăm sóc sau mổ là một phần không thể thiếu của điều trị ngoại khoa. Ở những bệnh nhân được mổ chương trình, việc chăm sóc sau mổ được chú trọng và thực hiện liên tục xung quanh cuộc mổ từ việc đánh giá và chuẩn bị bệnh nhân cho mỗi một cách thức phẫu thuật, đến việc tư vấn cho người bệnh nhằm làm giảm thiểu những xáo trộn tâm lý, cũng như giúp cho sự hồi phục sức khỏe được mau chóng.
Người bệnh sau mổ ung thư đại trực tràng cũng được chăm sóc và theo dõi một cách chặt chẽ cũng giống như những cuộc mổ lớn khác, phải theo dõi sát tình trạng mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở (gọi chung là các dấu hiệu sinh tồn). Duy trì dịch truyền trong vài ngày đầu sau mổ nhằm cân bằng nước, điện giải cho người bệnh. Việc giảm đau sau mổ được hỗ trợ bởi máy bơm tiêm tự động, giúp bệnh nhân tự giảm đau theo đúng liều lượng thuốc đã được tính toán.
Kết quả nghiên cứu từ 2.315 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư đại trực tràng của một nhóm nghiên cứu thuộc Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (American Cancer Society) cho thấy các loại thịt đỏ, thịt chế biến sẽ làm tình trạng ung thư đại tràng xấu hơn. Hơn nữa, trong số những bệnh nhân được chẩn đoán ung thư đại trực tràng trước đây đã ăn nhiều thịt, sau đó tiếp tục ăn nhiều thịt đỏ, thịt chế biến sẽ dễ bị xuất hiện biến chứng và tử vong.

Tại sao bị polyp đại tràng

Polyp đại tràng không phải là u nhưng là một tổn thương có hình dạng giống như một khối u, có cuống hoặc không, tổn thương này do niêm mạc đại tràng và tổ chức dưới niêm mạc tăng sinh tạo thành. Polyp đại tràng có thể lồi vào lòng đại tràng hoặc phẳng. Một người có thể có nhiều hơn một polypđại tràng. Kích thước của chúng có khác nhau, có thể rất nhỏ bằng hạt đậu nhưng có trường hợp to hơn rất nhiều (chẳng hạn bằng quả bóng bàn). Đa số polyp đại tràng là lành tính nhưng một số có khả năng hóa thành ác tính (ung thư). Hầu hết polyp đại tràng gặp ở cả nam và nữ, tuổi đời hay gặp nhất là người có tuổi (trên 50 tuổi).
Nguyên nhân
Nguyên nhân của polyp đại tràng tuy chưa được xác định một cách chắc chắn, nhưng có một số giả thuyết cho rằng có thể là kết quả sự tăng sinh bất thường của tế bào. Bình thường quá trình tăng sinh tế bào chịu sự kiểm soát của 2 nhóm gen, đó là nhóm gen gây ung thư và nhóm gen ức chế khối u. Khi có sự đột biến ở bất kỳ gen nào trong số hai loại gen này đều có thể làm cho tế bào tăng sinh quá mức tạo thành u hoặc dạng u (polyp). Ở đại tràng sự tăng sinh này sẽ tạo thành những khối dạng u và đáng lo ngại nhất một số dạng u đó (polyp) có thể trở thành ung thư (về lâu dài, cần có nhiều năm).
Ngoài ra, có thể do chế độ ăn uống và sinh hoạt không hợp lý. Khi chế độ ăn nhiều chất béo, thịt có màu đỏ (thịt bò, trâu, thịt chó…) hoặc ăn ít rau, quả, chất xơ, hoặc lười, ít vận động có thể là những yếu tố nguy cơ gây nên polyp đại tràng. Những người nghiện thuốc lá, béo phì hoặc do bị viêm đại trực tràng mạn tính... có thể được xem như một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây polyp đại tràng.
Bên cạnh đó yếu tố di truyền cũng được đề cập tới ở những trường hợp cùng huyết thống (ông bà, bố mẹ, anh, chị em ruột thịt) bị polyp đại tràng dẫn đếnung thư mang tính chất gia đình .
Lời khuyên của thầy thuốc
Để phòng bệnh, NCT cần có chế độ ăn uống và lối sống hợp lý. Hàng ngày hạn chế ăn nhiều chất béo, mỡ động vật (lòng động vật), các loại thịt đỏ. Hạn chế đến mức tối đa rượu, bia. NCT cần tăng cường ăn rau, củ, quả và chất xơ. Vận động cơ thể đều đặn, thường xuyên, đúng bài bản là điều rất cần thiết. Phương pháp đơn giản dễ thực hiện, không tốn kém là đi bộ, mỗi một ngày tổng thời gian khoảng 60 phút chia làm 2 - 3 lần. Ngoài ra có thể chơi cầu lông, bóng bàn, bơi nếu như có sức khỏe tốt.

Các dấu hiệu bị đuối cạn

Mùa hè đến, bơi lội hay được ngâm mình trong nước là một thú vui mà bất kỳ ai cũng có thể tự thỏa mãn. Tuy nhiên, thú vui ấy cũng có những nguy cơ mà không phải ai cũng lường hết được. Mọi người thường chỉ nghĩ đến đuối nước, ít ai biết đến đuối cạn và những nguy cơ khi mải mê ngâm mình ở bể bơi. Những dấu hiệu đuối cạn hoặc đuối nước thứ phát không dễ dàng phát hiện, đặc biệt ở trẻ nhỏ.
Một người đã hít phải nước thì có thể có các dấu hiệu: khó thở, đau ngực, hoặc ho; thay đổi đột ngột hành vi; rất mệt mỏi. Những dấu hiệu này không dễ dàng phát hiện, đặc biệt ở trẻ nhỏ mà bình thường chúng có thể khó chịu hoặc mệt mỏi sau một ngày dài dưới ánh nắng mặt trời và ngâm mình trong nước. Nếu con bạn gắng sức hoặc có những vấn đề khi ở dưới nước, hãy chú ý tới các dấu hiệu trên vì nó có thể xuất hiện vài giờ sau đó.
Đuối cạn và đuối nước thứ phát thường xuất hiện trong khoảng 1-24 giờ sau một gắng sức trong nước.
Vì thế, nếu bạn nhận thấy bất cứ dấu hiệu nào ở trên, hãy tới phòng cấp cứu ngay lập tức. Thời gian là yếu tố quan trọng trong điều trị đuối cạn.
Có thể phòng tránh được không?
An toàn với nước là cách phòng tránh tốt nhất. Nhắm chặt mắt khi bơi không có kính mắt bảo vệ và khi trẻ em ở dưới nước, dạy người bơi thổi nước ra, biết giới hạn của mình và không hoảng loạn trong nước.
Cần nhấn mạnh rằng không có sự thay thế nào cho sự giám sát tốt của cha mẹ khi trẻ em ở xung quanh nước, có thể là bể bơi hoặc một hồ nước tự nhiên. Đuối nước vẫn là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt với trẻ em. Để phòng tránh đuối nước, chúng ta phải biết cách hồi sinh tim phổi, dạy trẻ em bơi và biết cách giữ an toàn với nước và đặt một hàng rào kín xung quanh bể bơi để phòng tránh trẻ em bị ngã xuống do tai nạn.
ThS. BS. Lương Quốc Chính (Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bạch Mai)